“Ngày hôm đó, Mạnh Tương và Sở Lam ngồi cùng một bàn, Quách Thục Dư ngồi dưới hai người bọn họ, cùng bàn với Lý Ấu Nghi. Trên bàn có bút mực, bình mai cắm hoa, còn có một bộ ấm trà với lò ủ ấm, mỗi bàn đều đặt một hộp gấm chia ngăn, tất cả nguyên liệu pha trà đều được đặt trong các ngăn của hộp gấm này —”
Mặt Nghi Dương Công chúa hơi tái, trong khi Cửu Tư và Lư Trác đang dẫn gia nhân trong phủ đến xúc tuyết tại hiện trường giàn hoa thì Bùi Yến hỏi: “Người cuối cùng rời khỏi giàn hoa hôm đó là ai, Công chúa còn nhớ chứ?”
Nghi Dương Công chúa lắc đầu: “Ta thực sự không nhớ rõ nữa.”
Bà ấy nhìn về phía thị nữ bên cạnh là Thanh Đại, Thanh Đại nói: “Nô tỳ nhớ, lúc đó Công chúa Điện hạ rời đi cùng Khánh Dương Công chúa Điện hạ, mấy người Đoàn Thế tử, sau ngài ấy là huynh muội Tiêu Thế tử rồi đến Mạnh cô nương và mấy người đi chậm hơn. Chắc người rời đi sau cùng là Mạnh cô nương, Quách cô nương, Ân cô nương, còn có Sở cô nương, Lý cô nương và Ngu cô nương, đúng là họ!”
Bùi Yến ra lệnh: “Đến phủ Quảng Ninh Bá mời Quách Thục Dư đến đây.”
Nghi Dương Công chúa lại nói: “Bàn tiệc hôm ấy, các cô nương và các công tử ngồi đối diện nhau. Ngoại trừ lúc cắm hoa bọn họ tùy ý đi lại và từng sang phía các cô nương, còn những lúc khác mọi người vẫn phân chia rõ ràng. Nếu hung thủ muốn hạ độc, nhất định phải chọn lúc không ai chú ý. Mà khi tất cả chúng ta rời khỏi nhà hoa, ở cửa có giữ lại hai thị nữ, cũng không thể có người lặng lẽ quay lại hạ độc... ”
Bùi Yến trầm ngâm gật đầu: “Đúng, hôm đó ta cũng đã hỏi qua rồi.”
Khương Ly nhìn vụn cam thảo dây trong tay, nói: “Sở Lam và Mạnh Tương ngồi cùng ngồi một bàn, nếu hung thủ hạ độc quá sớm, Sở Lam cũng sẽ bị trúng độc. Nhưng vẫn là câu hỏi cũ, làm sao hung thủ có thể chắc chắn người quay về là Mạnh Tương?”
“Trừ khi chính Sở Lam là người hạ độc.”
Một câu của Bùi Yến khiến Nghi Dương Công chúa thay đổi sắc mặt, bà ấy quả quyết nói: “Sao có thể như vậy được? Sở Lam và Mạnh Tương thân thiết lắm mà, nàng ta có lý do gì để mưu hại Mạnh Tương chứ?”
Bùi Yến đáp: “Quan hệ thân thiết cũng có thể chỉ là vẻ bề ngoài, như vậy cũng có thể giải thích vì sao hung thủ hạ độc sẽ không làm Sở Lam bị thương. Đương nhiên, nếu hung thủ hại người vốn không để ý chuyện làm bị thương nhầm, thì ngược lại Sở Lam lại không còn hiềm nghi.”
***
Khi Quách Thục Dư chạy tới phủ Công chúa, tuyết đọng ở chỗ nhà hoa đã được xúc đi một mảng lớn, tuyết đọng dọn sạch đã thấy khắp nơi bừa bộn. Không chỉ bàn tiệc của Mạnh Tương và Sở Lam bị đập nát tươm, bàn tiệc của Quách Thục Dư và Lý Ấu Nghi ở phía dưới cũng bị đè gãy. Hộp gấm, bình mai vỡ vụn rơi đầy đất. Nếu hôm ấy Quách Thục Dư ngồi ở bàn tiệc, e cũng khó tránh khỏi kết cục mất mạng tại chỗ giống Mạnh Tương.
Cửu Tư tiến lên nói: “Công tử, hôm đó tuyết trượt xuống, mọi vật trên bàn của Quách cô nương đều bị đẩy về phía Tây. Phần nguyên liệu trà mà chúng ta nhặt được đều là của bàn Mạnh Tương, nhưng chúng ta cũng tìm thấy trong lọ trà vỡ có một ít ‘vụn đậu đỏ’ chưa kịp nấu, ngoài ra, cũng thu thập được một ít nguyên liệu từ bàn của Quách cô nương.”
Cửu Tư đưa lên hai mảnh giấy dầu, một gói là vụn trà mới nhặt được, gói còn lại là phần trà đã nấu dở, Khương Ly xem xét kỹ rồi giao lại cho Bạch Kính Chi. Sau khi kiểm tra, ông ta trầm giọng nói: “Phần chưa nấu không có độc, đều là vụn đậu đỏ, nhưng phần đã nấu thì có cam thảo dây nghiền nhỏ.”
Nghi Dương Công chúa kinh ngạc nói: “Quả nhiên chỉ là để giết Mạnh Tương!”
Quách Thục Dư hành lễ xong vẫn chưa hiểu chuyện gì, Khương Ly giải thích sơ qua, nàng ấy lập tức thay đổi sắc mặt: “Hạ độc vào trà? Sao có thể chứ? Nửa sau của buổi tụ tập chúng ta đều uống trà, Sở Lam và Mạnh Tương cũng uống không ngừng, nếu có độc thì tại sao Sở Lam không bị gì? Ta với Ấu Nghi cũng uống trà của họ mà!”
Bùi Yến nói: “Mời mọi người đến là để kể rõ những gì hôm đó diễn ra. Nếu cảm thấy điều gì kỳ lạ thì dù chỉ là một câu, một động tác đều có thể nói ra. Cứ bắt đầu từ lúc Công chúa nói mọi người có thể hái hoa mang về —”
Chết người vẫn chưa đủ, còn có người hạ độc.
Quách Thục Dư siết chặt khăn tay, căng thẳng nói: “Công chúa nói mọi người có thể hái hoa mang đi lúc thi nghệ thuật cắm hoa xem như phần thưởng, ai ai cũng bằng lòng. Nhưng vì đêm ấy ta còn phải đến Tiết phủ khám bệnh, khi ấy ta đã nói với Ấu Nghi là ta sẽ không bẻ hoa nữa. Mấy người họ đều nghe thấy, nhưng cũng không có gì khác thường. Đến sau đó, khi tất cả mọi người đi vào rừng mai, ta vốn cũng muốn đi cùng mọi người. Ta thích náo nhiệt, đi dạo trong rừng cùng mọi người cũng tốt. Ngược lại là Tương nhi vì cổ họng khó chịu, do dự một lúc mới quyết định đi cùng...”
“Khi ấy chúng ta đứng trước bàn của nàng ấy, nắp hộp gấm đựng nguyên liệu trà vẫn đậy kín rồi đặt bên mép bàn, không ai động vào. Vì bị chậm trễ nên lúc chúng ta ra ngoài thì người khác đã đi hết rồi.”
“Vào rừng mai đi về phía trước hơn mười bước thì Tương nhi hít mấy ngụm gió lạnh rồi ho dữ dội, đương nhiên càng khó chịu hơn. Khi ấy nàng ấy hơi tiếc nuối, bèn nói quay về nhà hoa chờ mọi người. Lại vì biết vốn dĩ ta không định bẻ mai, nàng ấy bèn hỏi ta có muốn cùng quay về nghỉ ngơi không. Ta nghĩ một mình nàng ấy thật sự buồn chán nên quay lại nhà hoa cùng nàng ấy.”
Quách Thục Dư nhìn chằm chằm vào giàn hoa bị sập, rồi nói tiếp: “Khi ấy cổ họng nàng ấy khó chịu, vừa quay về đã uống hai ngụm trà. Nghĩ rằng mọi người còn một lúc nữa mới về, nàng ấy lại thêm nguyên liệu trà để nấu nước trà. Trà nóng chống lạnh, ngay cả ta lúc ấy cũng đang chờ nước trà. Chỉ tiếc, nước trà còn chưa nấu xong thì đã xảy ra chuyện ngoài ý muốn. Nếu không có chuyện ngoài ý muốn, phần lớn ta cũng sẽ trúng độc cùng nàng ấy.”
Nàng ấy vẫn còn sợ hãi, bình tĩnh lại rồi hỏi: “Nhưng hung thủ đã nghĩ kỹ dùng tuyết đọng để giết người, sao lại còn hạ độc trong nguyên liệu trà? Ấm trà cuối cùng ta và Ấu Nghi cũng từng uống. Sau đó, hẳn là không có ai động vào hộp gấm đựng nguyên liệu trà của các nàng ấy. Sau khi chúng ta quay lại, cũng chỉ có Tương nhi tự mở hộp gấm lấy nguyên liệu trà. Những điều này, ngoài ta ra còn hai thị nữ ở cửa nhà hoa khi ấy cũng nhìn thấy. Ban đầu ta chờ uống trà, sau đó lại muốn xem khi nào mọi người quay về, lúc này mới đứng ra chỗ gần bên ngoài...”
Quách Thục Dư nghĩ mãi không ra, Bùi Yến hỏi: “Ấm trà cuối cùng được nấu xong khi nào?”
Quách Thục Dư đáp: “Là lúc cuộc thi cắm hoa diễn ra được một nửa.”
Bùi Yến lại hỏi: “Sau đó không có ai đến gần bàn tiệc nữa sao?”
Quách Thục Dư sững người: “Có chứ, ta và Ấu Nghi gần đó thì không nói làm gì, còn Tử Đồng, Đoàn công tử đối diện, Tiểu Quận vương và hai vị công tử nhà họ Cao đều có qua lại gần đó, chỉ là ta không thấy ai động vào hộp gấm.”
Quách Thục Dư chưa từng nhìn thấy, không có nghĩa là không có người hạ độc. Nếu không ai chạm vào hộp gấm, vậy cam thảo dây được bỏ vào bằng cách nào? Nhưng hiện giờ muốn tìm được nhân chứng tận mắt chứng kiến lại không dễ dàng. Mà giữa việc hạ độc và giết người bằng tuyết đọng rốt cuộc có quan hệ gì?
Bùi Yến nói: “Nếu hung thủ chuẩn bị hai cách để giết người thì quá mạo hiểm, khả năng lớn nhất hiện tại là có hai hung thủ. Kẻ hạ độc chắc chắn muốn mưu hại Mạnh Tương, khả năng cao mục tiêu của kẻ tạo ra sự cố tuyết đọng cũng là Mạnh Tương, chỉ là không ngờ hai kẻ lại đụng phải nhau.”
Quách Thục Dư hít sâu một hơi: “Hai người đều muốn giết Tương nhi? Không thể nào, bình thường Tương nhi đâu có kết thù với ai, sao lại có hai người muốn giết nàng ấy cùng lúc?”
Bùi Yến nói: “Cam thảo dây có dấu hiệu rất rõ ràng, tuy tuyết đọng giết người có thể làm bị thương người khác, nhưng xét vị trí nó trượt xuống, hai vị Công chúa, cùng hai bàn tiệc của cô và Mạnh Tương là nguy hiểm nhất. Hai vị Công chúa ra vào đều có đông người theo hầu trước sau, cũng không hề nói là không định bẻ mai, hung thủ đã dùng cách này thì hẳn đã cân nhắc đến hiệu quả trực tiếp. Kết quả là một người chết, một người bị thương, trùng với dự đoán. Giờ động cơ chưa rõ, lại không thể dùng sự đơn giản để lý giải sự phức tạp.”
Khương Ly cũng gật đầu: “Nếu bỏ qua động cơ mà chỉ xét hiện trường, hai phương thức giết người đều có chung mục tiêu là Sở Lam và Mạnh Tương. Nhưng Sở Lam không có lý do gì để ở lại trong giàn hoa, nên gần như chắc chắn mục tiêu là Mạnh Tương. Dù thế nào, vẫn phải bắt đầu từ trên người Mạnh Tương, còn về Quách cô nương, rất có thể lại là bị liên lụy.”
Nói đến đây, Khương Ly đột nhiên nói: “Hơn nữa, mấy lần ngoài ý muốn trước đây của Quách cô nương, liệu có phải hung thủ vốn không nhắm vào Quách cô nương, mà cũng là nhắm vào Mạnh cô nương không?”
Bùi Yến đáp: “Mấy chuyện ngoài ý muốn đó chúng ta đã điều tra rồi. Lúc hỏa hoạn ban đầu hai người họ ở gần nhau, mà lần rơi xuống hồ Huyền Vũ kia, Quách cô nương lại mặc áo choàng của Mạnh cô nương. Lần ở phủ Khánh Dương Công chúa kia hai người họ đều có mặt, vẫn chưa tìm ra khả năng ngoài ý muốn đó nhắm vào Mạnh Tương mà đến.”
Khương Ly nhớ lại nói: “Ngày đó ta xuống lầu trước, mọi người trên lầu tốp năm tốp ba chọn hoa lan, sau đó Quách cô nương xuống lầu tìm ta nói chuyện, hai người chúng ta đứng ở cửa một lát thì chậu hoa bỗng rơi xuống, quả thật không liên quan đến Mạnh cô nương.”
Quách Thục Dư kinh hồn bạt vía nói: “Nhưng... nhưng lần xe ngựa của ta thì sao? Còn mèo của ta cũng chết rồi, đương nhiên, hai lần đó có lẽ là ta nghĩ nhiều, nhưng hai lần cháy nhà và rơi xuống nước, hung thủ sẽ nhận nhầm đối tượng sao?”
Lông mày nàng ấy nhíu thành chữ “xuyên”, sau một thoáng khổ sở suy nghĩ đột nhiên nói: “Nếu nói theo đủ loại trùng hợp, quả thật không phải không có khả năng. Ta nhớ tối hôm cháy nhà gió rất lớn, hơn nữa còn là thứ gió quái đổi hướng bất định, sau đó cũng thật sự cháy lan đến căn phòng của Tương nhi. Mà lần rơi xuống nước kia ta mặc áo choàng của Tương nhi, nếu thật sự có người đẩy ta, vào lúc màn đêm buông xuống rất có khả năng nhận nhầm người, nhưng vì sao chứ...”
Bùi Yến và Khương Ly liếc nhìn nhau. Khương Ly nói: “Vụ rơi xuống nước xảy ra vào tháng 3, cháy nhà vào tháng 8. Tháng 3 Mạnh Tương đã bắt đầu bàn chuyện cưới hỏi chưa?”
Quách Thục Dư ngập ngừng: “Hình như bắt đầu xem mắt rồi, nhưng chưa nghe nói đã định nhà ai.”
Bùi Yến cũng nói: “Nhà họ Mạnh bắt đầu tính toán chuyện hôn sự từ tháng 2 sau năm mới, đến tháng 6 mới bắt đầu tiếp xúc với nhà họ Đoàn, tiếp xúc với nhà họ Cao thì là hơn 2 tháng trước.”
Khương Ly nói: “Vậy là tháng 9. Như vậy mà nói, ít nhất vụ rơi xuống nước ở hồ Huyền Vũ không thể liên quan đến đám cưới.”
Nghe vậy, Quách Thục Dư lộ vẻ nghi ngờ: “Đám cưới? Cái chết của Tương nhi thì liên quan gì đến đám cưới chứ?”
Bùi Yến nói: “Bởi vì qua điều tra, chúng ta được biết gần một năm nay mọi chuyện của Mạnh Tương đều như thường, ngày thường không có biến đổi nào khác. Với mọi người trong buổi tụ tập ngắm tuyết hôm ấy, nàng ấy cũng chỉ có chút dây dưa trong chuyện hôn sự. Tình nghĩa giữa cô và Mạnh Tương cũng thân thiết, cô cũng có thể nghĩ thử xem hơn một năm qua nàng ấy có chỗ nào kỳ lạ không. Trước đó ta đã hỏi Sở Lam, nhưng Sở Lam cũng nói nàng ấy vẫn như thường, thậm chí ngay cả tức giận cũng rất hiếm thấy.”
Quách Thục Dư trầm tư: “Chỗ nào kỳ lạ…”
Mọi người đều nhìn về phía nàng ấy. Quách Thục Dư đi qua đi lại vài bước, đột nhiên nói: “Nửa năm trở lại đây ta ít ra ngoài nên trong chốc lát cũng không nhớ được nàng ấy có gì khác thường, nhưng vào dịp Tết, ta lại thấy Tương nhi có chút lạ.”
Mọi ánh mắt đều trở nên căng thẳng, Quách Thục Dư nói tiếp: “Từ sau khi ta chịu cú sốc lớn và bị bệnh hồi năm ngoái, phần lớn thời gian ta đều ở trong phủ dưỡng bệnh. Nhưng có một nơi, dù ta khó chịu thế nào, cứ mười ngày nửa tháng ta vẫn ráng ra ngoài một lần.”
Nàng ấy nhìn sang Khương Ly, trong lòng Khương Ly dao động: “Phủ của Nhạc cô nương?”
Quách Thục Dư gật đầu: “Không sai, ta thường đến phủ Doanh Thu thăm hỏi, ban đầu là thăm bá phụ, bá mẫu và Vân Hương. Nhưng đầu tháng Chạp năm ngoái, Nhạc bá phụ bệnh nặng qua đời, ta giúp lo liệu tang sự, sau đó biến thành ta đến thăm Nhạc bá mẫu và Vân Hương. Mà từ sau khi Doanh Thu mất, ngoài ta ra thì chỉ có Tương nhi đến nhiều nhất, ta cũng thường gặp Tương nhi ở nhà họ Nhạc. Trước đó Tương nhi vẫn còn rất bình thường, nhưng mùng 7 mùng 8 Tết ta gặp nàng ấy ở nhà họ Nhạc, lại thấy nàng ấy tâm sự nặng nề. Hai người chúng ta cùng bá mẫu nói chuyện. Nói được một lúc, nàng ấy bỗng thất thần, sau đó còn kéo bá mẫu muốn xem di vật của Doanh Thu, lại hỏi cây trâm trước kia của Doanh Thu có hình dáng thế nào, thỉnh thoảng còn kéo Vân Hương nói năng không rõ ràng trò chuyện, chỉ hỏi nàng ấy có nhớ lại ngày Doanh Thu bị hại hay không.”
Nói đến đây, nàng ấy khẽ cười khổ: “Ta không nhớ rõ được chuyện gì nữa, chỉ có chuyện nhỏ này, nhưng cũng đã gần một năm rồi nên mới nghĩ chắc chẳng liên quan gì đến vụ án hiện giờ.”
Chưa nói hết lời, sắc mặt Bùi Yến đã trở nên nghiêm trọng: “Nàng ấy hỏi về cây trâm nào?”
Quách Thục Dư thở dài: “Là cây trâm bị hung thủ lấy đi khi Doanh Thu bị hại. Trước đó ngoài hại người ra, hung thủ kia còn vơ vét sạch sẽ những vật đáng tiền trên người nạn nhân. Trâm và vòng tay của Doanh Thu lúc ấy đều bị cướp đi, có lẽ đã bị bán vào chợ đen, sau đó Kim Ngô Vệ cũng không tìm được tung tích.”
Khương Ly nhìn sang Bùi Yến, vẻ mặt Bùi Yến cũng trở nên phức tạp.
Quách Thục Dư nhìn hai người đầy thắc mắc: “Sao vậy? Có gì không ổn sao?”
Nghi Dương Công chúa ở bên cạnh cũng hỏi: “Hạc Thần, có chuyện gì không thể nói sao?”
Bùi Yến xua tay lệnh cho đám tôi tớ phủ Công chúa và Bạch Kính Chi lui xuống trước. Đợi mọi người rời đi, hắn nói: “Bởi vì mấy lần ngoài ý muốn của Quách cô nương bắt đầu từ tháng 9 năm ngoái, mà tâm bệnh của nàng ấy là do Nhạc Doanh Thu bị hại mà sinh ra, lại thêm Nhạc Doanh Thu và Mạnh Tương cũng là bạn thân, hôm qua ta đã thử đọc vụ án của Nhạc Doanh Thu. Trong hồ sơ có nhắc đến sau khi Nhạc Doanh Thu bị hại đã mất đồ trang sức, hơn nữa cuối cùng những món trang sức đó cũng không được tìm thấy. Nhưng Tết đã cách lúc Nhạc Doanh Thu bị hại 7 tháng, cách lúc vụ án kết án, hung thủ bị xử chém cũng đã hơn 3 tháng. Cách lâu như vậy, sao Mạnh Tương lại hỏi kiểu dáng cây trâm của Nhạc Doanh Thu vào lúc đó?”
Quách Thục Dư đáp: “Chẳng lẽ không phải vì tưởng nhớ Doanh Thu sao?”
Bùi Yến hỏi: “Khi nàng ấy hỏi, có hỏi kỹ không?”
Quách Thục Dư ngẫm nghĩ: “Dường như… là hỏi rất kỹ. Ngày đó Doanh Thu đeo một đôi trâm tóc thỏ ngọc bái nguyệt bằng ngọc dương chi, kiểu dáng này tuy thường thấy, nhưng cửa tiệm khác nhau thì chi tiết chạm khắc cũng khác nhau. Hôm đó Tương nhi đã hỏi bên dưới hình thỏ ngọc bái nguyệt có khắc mấy đóa hoa quế... còn gì nữa thì ta không nhớ rõ.”
Khương Ly nói: “Nếu lúc đó nàng ấy hỏi, hẳn là đã thấy hoặc nghĩ đến thứ gì liên quan đến cây trâm. Sau đó nàng ấy không hỏi thêm gì về trang sức nữa sao?”
Quách Thục Dư lắc đầu: “Không, sau đó thì nàng ấy vội lấy chồng. À đúng rồi, việc nàng ấy sốt sắng lấy chồng cũng rất lạ. Cha mẹ nàng ấy rất yêu thương nàng ấy, vốn không muốn để nàng ấy sớm gả ra ngoài, nhưng khi ấy nàng ấy lại vội như thể muốn hôn sự của mình có nơi có chốn, là nàng ấy chủ động bàn bạc với người nhà rằng trong năm nay phải định xong hôn sự.”
Bùi Yến nói: “Mạnh phu nhân nói như vậy, nhưng Mạnh Tương từ nhỏ đã có chủ kiến, hơn nữa 19 tuổi đính hôn cũng không tính là sớm, bọn họ cảm thấy là Mạnh Tương hiểu chuyện, vì vậy làm theo ý nàng ấy.”
“Một cô nương được cha mẹ nâng niu trong lòng bàn tay, bỗng nhiên vội vàng muốn gả mình đi.” Khương Ly khó hiểu nói: “Sự vội vàng này, nhất định là vì một loại nguy cơ nào đó, mà đối tượng nàng ấy cuối cùng muốn định hôn là nhà họ Cao... ”
Nhà họ Cao là thế gia đứng đầu Trường An hiện nay, gả vào nhà họ Cao là có được sự bảo hộ từ Thái tử và Quý phi Cao thị. Tuy phủ An Viễn Hầu có binh quyền, nhưng sau khi đính hôn, địa vị sẽ không còn như xưa. Mạnh Tương như vậy, ngược lại càng giống như đang thay chính mình, cũng thay phủ An Viễn Hầu tìm kiếm quyền thế lớn hơn, cũng có thể nói là chỗ dựa lớn hơn.
Bùi Yến nói: “Xem ra, chúng ta cần đến phủ nhà họ Nhạc một chuyến.”
Quách Thục Dư do dự một chút, rồi nhìn sang Khương Ly: “Ta có một thỉnh cầu hơi quá đáng. Tiết cô nương, liệu có thể nhờ cô khám mắt cho Nhạc bá mẫu được không? Trước kia bà ấy vốn đã có bệnh về mắt, từ sau khi Doanh Thu và bá phụ mất, bà ấy ngày ngày khóc thương, nay mắt càng mờ hơn, khó chữa hơn…”
Khương Ly vốn đã đồng cảm với Nhạc phu nhân, nghe vậy đương nhiên vui vẻ nhận lời.
***
Khi rời khỏi phủ Công chúa đã gần giờ Dậu, sắc chiều vàng vọt, gió lạnh tiêu điều, mọi người ngồi xe ngựa rời phường Phong Nhạc đi về phía phường Vĩnh Đạt, nơi Nhạc phủ tọa lạc.
Quách Thục Dư và Khương Ly ngồi chung một cỗ xe, đi được nửa đường, Quách Thục Dư chua xót nói: “Thật ra sáng nay ta đã định nhờ cô nương giúp rồi, nhưng thứ nhất là bệnh của bá mẫu là bệnh cũ, khó mà chữa khỏi; thứ hai là cô nương y thuật cao minh, thân phận cũng tôn quý, làm sao có thể tùy tiện chữa bệnh cho người khác, ta cũng không dám mở lời.”
Khương Ly lắc đầu: “Người hành y chữa bệnh, không phân cao thấp sang hèn, huống chi Nhạc phu nhân vốn cũng là người nhà quan lại.”
Quách Thục Dư thở dài: “Đâu còn là nhà quan lại gì nữa, tổ tiên nhà họ Nhạc là dòng dõi thư hương, đến đời bá phụ lại đều chuyển sang buôn bán. May mà bá phụ học vấn tốt, dựa vào bản thân thi đỗ Tiến sĩ, lúc này mới có được thân phận quan lại. Bá phụ lên đến chức Lang trung Độ chi ti Hộ bộ đã là không dễ, nhưng nếu nhẫn nại thêm nữa, vẫn có cơ hội thăng tiến. Nào ngờ chuyện Doanh Thu xảy ra đã đả kích ông ấy quá lớn, ông ấy bệnh liệt giường, không gắng gượng qua được mùa đông khắc nghiệt năm ngoái. Đáng tiếc ông ấy và bá mẫu tình sâu nghĩa nặng, chỉ có một cô con gái là Doanh Thu. Hai cha con họ lần lượt qua đời, người khổ sở gian nan nhất lại thành bá mẫu. Mà những chi thứ nhà họ Nhạc kia, những năm đầu dựa vào bá phụ làm việc ở Hộ bộ, ai nấy đều nịnh bợ lấy lòng, đến nay chỉ còn lại một góa phụ là bá mẫu thì nhao nhao đổi sắc mặt.”
Khương Ly nghe đến mức mặt đanh lại. Xe ngựa chạy nhanh hai khắc thì đến ngoài cửa Nhạc phủ, Cửu Tư tiến lên gọi cửa, đợi một lát mới có một tiểu nha đầu ra mở cửa.
Lúc này sắc trời vừa sẩm tối, trong phủ nhà khác đều đèn đuốc sáng trưng, Nhạc phủ lại tối om om. Tiểu nha đầu mở một khe cửa, cảnh giác nhìn ra ngoài. Quách Thục Dư tiến lên nói: “Hương Cần, bá mẫu đã nghỉ chưa?”
Tiểu nha đầu ấy tầm 12 - 13 tuổi, thấy người đến đông thì hoảng sợ, nhìn thấy Quách Thục Dư mới lộ ra gương mặt tươi cười: “Thì ra là Quách cô nương! Mau mời, mau mời, phu nhân lúc này đang tụng kinh, vẫn chưa ngủ.”
Quách Thục Dư đi phía trước dẫn đường, chỉ có một ngọn đèn dầu trong tay Hương Cần chiếu sáng. Đi một đường về phía Bắc vào đến sân thứ ba, mới thấy trong chính phòng có ánh đèn mờ tối. Quách Thục Dư vừa nhìn đã nói: “Sao lại tối thế này? Mắt bá mẫu đã rất mờ rồi, buổi tối càng tối thì mắt càng hỏng nhanh…”
Hương Cần vừa chạy vừa nói: “Nô tỳ sẽ thắp đèn ngay. Phu nhân ơi, Quách cô nương đến rồi, còn dẫn theo bạn nữa.”
Trong phòng dần dần sáng lên, Quách Thục Dư ra hiệu cho Khương Ly và Bùi Yến cùng vào cửa, mấy người Cửu Tư ở lại bên ngoài chờ. Vừa vào cửa, họ thấy một người phụ nữ áo tím tóc mai hoa râm đi ra. Theo tuổi tác của Nhạc Doanh Thu mà suy đoán, bà ấy hẳn khoảng 40 tuổi, nhưng vừa nhìn qua, ngoài mái tóc đen đã điểm bạc đầy đầu, lưng bà ấy còng xuống, dung nhan tiều tụy, lại vì bệnh mắt nên hai mắt hơi nheo lại, lúc đi phải chống gậy dò dẫm tiến lên, trông như một bà lão hơn 60 mắt kém.
“Thục Dư đến rồi à —”
“Bá mẫu, là con, con đến thăm người.” Quách Thục Dư đỡ lấy bà ấy, dìu bà ấy ngồi xuống chiếc ghế bành rồi nói tiếp: “Con còn dẫn một người bạn làm đại phu đến, để nàng xem mắt cho người.”
Nhạc phu nhân được đỡ ngồi xuống, lại nheo mắt nhìn dáng vẻ mấy người, giọng nói nhiệt tình: “Hương Cần mau đi pha trà, đừng chậm trễ khách. Để mấy vị chê cười rồi, đôi mắt này của ta chẳng khác gì mù, thật sự tiếp đãi không chu toàn. Xin các vị cứ xem như ở nhà mình, ngồi đi, mau ngồi xuống nói chuyện…”
Khương Ly và Bùi Yến ngồi dưới. Khương Ly nói: “Phu nhân không cần khách sáo, là chúng ta quấy rầy mới đúng.”
Quách Thục Dư vẫn nắm tay bà ấy, nàng ấy đi thẳng vào vấn đề: “Bá mẫu, hôm nay chúng con đến còn có một chuyện muốn hỏi. Không biết người có nhớ không, lúc Tết năm nay, không phải Tương nhi cũng đến thăm người sao? Khi ấy còn hỏi người cây trâm của Doanh Thu có hình dáng thế nào, người có nhớ lúc đó nàng ấy hỏi thế nào không?”
Nhạc phu nhân có hơi thắc mắc: “Tương nhi, Tương nhi lâu rồi không đến. Khi đó nàng ấy có hỏi, ta nhớ. Nàng ấy hỏi trâm của Doanh Thu làm bằng chất liệu gì, ta nói là ngọc trắng dương chi; lại hỏi ngoài thỏ ngọc bái nguyệt ra, trên trâm có hoa quế không, ta nói có. Nàng ấy lại hỏi có mấy đóa hoa quế, cây trâm của Doanh Thu là do ta đặt làm cho nó, ta đương nhiên nhớ, là năm đóa, năm đóa hoa quế làm đế. Tương nhi lại hỏi trên thân trâm chạm khắc hoa văn gì, ta nói là hoa văn lá phong. Khi ấy hình như Tương nhi nói, nói nàng ấy muốn đến Vinh Bảo Trai đặt làm một đôi tương tự? Hay là đã nhìn thấy một đôi tương tự ở Vinh Bảo Trai, chuyện này ta không nhớ rõ.”
Quách Thục Dư nhìn sang Bùi Yến, thấy sắc mặt hắn đã nghiêm trọng. Cho dù là bạn thân, Nhạc Doanh Thu đã chết, Mạnh Tương không có lý do gì đi đặt làm một bộ giống hệt, mà nếu Mạnh Tương đã nhìn thấy một đôi tương tự, vì sao lại đến hỏi tỉ mỉ như vậy? Chẳng lẽ không sợ chạm vào nỗi đau lòng của Nhạc phu nhân? Trừ phi, Mạnh Tương thật sự đã nhìn thấy cây trâm giống hệt cây trâm Nhạc Doanh Thu từng đeo nên không thể không hỏi!
Bùi Yến vội hỏi: “Xin hỏi phu nhân, cây trâm được chế tác ở đâu? Có bán cây trâm nào giống hệt không?”
Nhạc phu nhân chậm rãi lắc đầu: “Không có cây nào giống hệt. Doanh Thu tuổi Mão, sinh ngày mùng 5 tháng 5, ta mới cầu xin sư phụ của Vinh Bảo Trai chạm khắc năm đóa hoa quế dưới đế trâm. Năm đóa hoa quế kia cực khó chạm, vì thế còn làm hỏng một khối ngọc tốt. Nếu là nhà người khác, dù phú quý đến đâu cũng sẽ không cố ý cầu con số 5, mà hoa văn lá phong kia cũng hiếm thấy, cũng là để hợp với chữ ‘Thu’, sao có thể tìm được cái giống hệt chứ?”
Cách 1 năm rưỡi, khi Nhạc phu nhân nhắc đến chuyện của con gái, giọng điệu đã trở nên bình tĩnh, nhưng bà ấy lại không nhìn rõ biểu cảm nặng nề của Khương Ly và Bùi Yến. Quách Thục Dư thấy vậy liền nói: “Chuyện này cũng chỉ là bạn bè quan tâm Doanh Thu tùy tiện hỏi thôi, hôm nay quan trọng nhất vẫn là khám mắt cho bá mẫu. Tiết cô nương, không biết bệnh này khám thế nào?”
Khương Ly nói: “Xin mời phu nhân nằm xuống, ta cần kiểm tra mắt của phu nhân trước.”
Quách Thục Dư liền nói: “Vậy để ta dìu bá mẫu vào trong.”
Nàng ấy nhẹ nhàng đỡ Nhạc phu nhân đi về phía sương phòng phía tây. Đợi hai người vào sau rèm cửa, Khương Ly và Bùi Yến cùng đứng dậy nhưng vẫn chưa cất bước ngay.
Khương Ly hạ thấp giọng, nói rất nhanh: “Quách cô nương từng nói, sau khi Nhạc cô nương gặp chuyện, nàng ấy và Mạnh Tương đều rất để tâm đến vụ án. Mạnh Tương còn nhờ người dò hỏi về các chi tiết vụ án, từ trước đến sau khi định án tất cả đều là do nàng ấy kể lại cho Quách cô nương. Đã biết chi tiết vụ án, vậy sau nhiều tháng trời nàng ấy lại đích thân đến hỏi về cây trâm đặc biệt như thế, chỉ có thể là vì nàng ấy đã thấy một cây trâm giống hệt. Mà nàng ấy đi hỏi Vân Hương về ngày xảy ra vụ án, chắc chắn là vì bắt đầu nghi ngờ. Nhưng nếu nàng ấy đã thấy cây trâm ấy và hoài nghi vụ án còn ẩn tình, thì tại sao sau đó lại không có động thái gì nữa? Và cây trâm đó rốt cuộc được nàng ấy nhìn thấy ở đâu?”
Trong lòng Khương Ly đầy nghi vấn, rồi lại nói: “Nhưng nàng ấy chưa bao giờ kể chuyện cây trâm với Quách cô nương.”
Bùi Yến trầm giọng nói: “Trước khi chết, Tào Hữu Khánh từng lật lại lời khai, mà trong vụ án vẫn còn nhiều chi tiết chưa được làm rõ, đặc biệt là một số món trang sức trên người đến giờ vẫn không rõ tung tích. Nếu như Mạnh Tương thấy cây trâm đó trong tiệm cầm đồ, thì nàng ấy chẳng cần phải lo lắng như thế. Nàng ấy không thiếu tiền, cứ mua lại kiểm tra là được. Nhưng nàng ấy chỉ hỏi Nhạc phu nhân rồi dừng lại, thậm chí không nói cho Quách Thục Dư biết, lời giải thích duy nhất là nàng ấy thấy cây trâm đó ở một nơi không bình thường. Thậm chí, thân phận chủ nhân hiện nay của cây trâm cực kỳ không tầm thường.”
Khương Ly nheo mắt đầy nguy hiểm: “Rất có thể người đó đang ở ngay trong buổi tụ hội thưởng tuyết của Nghi Dương Công chúa.”



