Quách Thục Dư từng nói, trong bốn người họ thì Mạnh Tương là người sốt ruột chuyện hôn sự nhất. Nhưng trước đó Bùi Yến từng điều tra, Mạnh Tương chỉ bắt đầu xem mắt chính thức từ sau Tết năm nay...
Khương Ly bèn hỏi: “Mạnh cô nương bắt đầu sốt ruột từ lúc nào năm ngoái sao?”
Tử Tuyết liếc nhìn Tiền thị, thấy bà ấy còn chìm trong đau thương, bèn đáp thay: “Là khoảng tháng 6 năm ngoái. Khi đó Trường An không mấy yên ổn, tiểu thư nhà chúng ta cũng thường thất thần. Thế rồi bỗng một hôm, nàng ấy nói với phu nhân rằng nàng ấy đã 18 tuổi, không bằng sớm định hôn sự, kẻo sau này quá 20 lại bị chê là lớn tuổi.”
“Khi ấy phu nhân còn cười, nói phủ An Viễn Hầu là nhà như thế nào chứ, Đại Chu chúng ta cũng có tục nữ lớn hơn nam, bảo cô nương đừng lo lắng. Về chuyện hôn sự, bà ấy và Hầu gia nhất định sẽ cẩn thận xem xét nhân phẩm, đức hạnh của chàng rể tương lai. Bà ấy còn nói trong lớp trẻ ở Trường An có không ít tài tuấn, Hầu gia đã bắt đầu để tâm rồi.”
Nhắc đến chuyện năm ngoái, Tiền thị nắm chặt cây trâm phượng, ánh mắt bi thương. Tử Tuyết lại thở dài: “Nửa tháng sau, tiểu thư lại hỏi phu nhân đã chọn được ai chưa. Phu nhân hơi kinh ngạc, lúc này mới hiểu lời tiểu thư nói không phải chuyện đùa. Khi ấy phu nhân còn có chút buồn lòng, nghĩ rằng tiểu thư lớn rồi, rốt cuộc cũng không thể giữ mãi bên mình, bèn hỏi tiểu thư có người trong lòng hay không.”
Ánh mắt Khương Ly vô cùng lo lắng, Tử Tuyết tiếp lời: “Khi ấy tiểu thư nói phủ Hầu gia chỉ có một mình nàng ấy là con gái, dù Hầu gia tuy nắm binh quyền trong tay, nhưng đó là nhờ hoàng ân che chở. Sau này lỡ xảy ra biến cố gì, phải có người giúp phủ Hầu. Người thế nào mới giúp được phủ Hầu? Tất nhiên phải là nhà cao cửa rộng, quyền quý hơn cả nhà chúng ta. Tiểu thư có tâm tư ấy, một là vì từ nhỏ chuyện gì nàng ấy cũng muốn nổi bật hơn người, ngay cả hôn sự cũng không muốn thua kém ai; hai là nàng ấy thật lòng nghĩ cho phủ Hầu. Hầu gia và phu nhân bàn bạc một phen, cũng quyết tâm không thể để tiểu thư gả thấp.”
Lúc này Tiền thị nghẹn ngào nói: “Con bé cũng là giận chúng ta, nên mới quyết tâm muốn gả đi...”
Khương Ly thắc mắc, Tử Vân bước lên, nói: “Dưới gối phu nhân và Hầu gia không có con trai. Nhiều năm qua, phu nhân vì chuyện này mà chịu không ít tủi thân. Mùa hè năm ngoái, Hầu gia từng nảy ý nhận con thừa tự, bị tiểu thư biết được.”
Mạnh Tắc và Tiền thị là thanh mai trúc mã, tình cảm sâu nặng, vì vợ mà ông ấy không nạp thiếp để cầu con. Nhưng đường đường là Hầu phủ, sau này không thể tuyệt tự, chuyện nhận con nuôi là điều sớm muộn. Trong tộc họ Mạnh vừa hay có mấy đứa trẻ mồ côi cha mẹ từ nhỏ, vì vậy năm ngoái Mạnh Tắc đã bàn bạc chuyện này với Tiền thị. Mạnh Tương biết được liền nổi giận.
Tử Vân ngập ngừng một thoáng, rồi tiếp: “Đó là chuyện tháng 7, Hầu gia chưa thực sự quyết, nhưng tiểu thư cứ buồn bã mấy ngày liền vì chuyện này, sau đó cứ cách vài hôm lại hỏi chuyện hôn sự. Mấy tháng trước Tết, Hầu gia và phu nhân đã dò hỏi vài nhà, nhưng nàng ấy không vừa ý. Đến sau Tết, nhắc đến nhà họ Đoàn và nhà họ Cao, tiểu thư mới yên lòng.”
Tháng 5 năm ngoái, Nhạc Doanh Thu bị hại mà chết. Chỉ mới qua một tháng, Mạnh Tương đã nảy ý định gả chồng. Ý nghĩ này xuất hiện trước, phong ba nhận con thừa tự xảy ra sau. Vậy ý định gả chồng của nàng ấy không phải vì chuyện nhận con thừa tự...
Khương Ly âm thầm suy tính, lại hỏi: “Tết năm ngoái Mạnh cô nương có gì khác thường không?”
Tử Vân và Tử Tuyết nhìn nhau, cả hai đều mờ mịt: “Không có ạ. Khi ấy Hầu gia nói với tiểu thư rằng nhà họ Cao muốn xem hôn sự cho Cao Thế tử. Những lễ vật Cao Quý phi ban cho mấy nhà thế giao dịp Tết, tiểu thư cũng được một phần, tiểu thư còn khá vui vẻ nữa. Sao cô nương lại hỏi vậy?”
Khương Ly khẽ lắc đầu: “Mấy ngày nay có những ai tới thăm phu nhân?”
Tử Vân buồn rầu nói: “Sở cô nương, Quách cô nương, Lý cô nương của Hoài Dương Quận vương, nhà Ân cô nương. Nhưng ai tới cũng không khuyên được phu nhân, tiểu thư là mạng sống của phu nhân, nay. …”
Khương Ly nghĩ một lát rồi nói: “Phu nhân muốn khóc thì cứ khóc cho thật thỏa một trận. Nhưng nay thi cốt Mạnh cô nương còn chưa lạnh, nếu phu nhân vì quá đau buồn mà ngã bệnh, hung thủ đứng sau màn chẳng phải sẽ vô cùng hả hê hay sao? Với tính tình của Mạnh Tương, nàng ấy cũng không muốn nhìn thấy phu nhân gục ngã. Dù thế nào đi nữa, hiện giờ báo thù rửa oan cho Mạnh Tương mới là chuyện quan trọng nhất.”
Lời vừa dứt, trong mắt Tiền thị bừng lên oán hận. Bà ấy ngồi thẳng người dậy, đập mạnh tay xuống giường: “Đợi tra ra hung thủ thật sự, bất kể kẻ đó là hoàng thân quốc thích nào, ta cũng nhất định bắt hắn đền mạng cho Tương nhi!”
Bà ấy thấp giọng mắng một câu như trút giận, rồi lại kiệt sức ngả ra sau. Thấy bà ấy mệt mỏi nặng nề, Khương Ly bèn nói: “Phu nhân đã mệt lắm rồi. Lúc này nếu có thể uống một bát canh an thần rồi nghỉ ngơi một đêm, ngày mai ắt sẽ có sức đến nha môn hỏi thăm tin tức. Cha còn đang đợi ta bên ngoài, ta không quấy rầy phu nhân nghỉ ngơi nữa.”
Tiền thị uể oải đáp một tiếng được, lại sai Tử Vân tiễn khách. Đợi ra khỏi viện của chủ mẫu, vẻ lo lắng trên mặt Tử Vân càng nặng hơn.
Lúc này Khương Ly hỏi: “Vừa rồi ngươi định nói gì nhưng lại nhịn xuống, có phải chuyện định thân của Mạnh cô nương còn nguyên do nào khác không?”
Tử Vân nhìn quanh một lượt, hạ giọng rất thấp: “Tiểu thư vừa gặp nạn, nô tỳ nói ra mấy lời này thật chẳng hay, nhưng thấy phu nhân đau lòng quá, nô tỳ cũng xót xa. Mẹ nô tỳ là nhũ mẫu theo hồi môn của phu nhân, từ năm 7 tuổi nô tỳ đã hầu hạ bên cạnh phu nhân. Vốn dĩ năm đó đã định để nô tỳ theo hầu tiểu thư, nhưng tiểu thư không cần. Chuyện đó cũng chẳng sao, chủ tớ cần có duyên, nô tỳ cũng bằng lòng theo hầu phu nhân. Nhưng chuyện hôn sự của tiểu thư lần này, thật chẳng thể trách phu nhân và Hầu gia.”
“Mấy năm nay dưới gối phu nhân không có con trai, không tránh khỏi bị người ta bàn tán. Nhưng tiểu thư dường như không hiểu được nỗi khó xử của phu nhân. Năm ngoái vừa nghe nói đến chuyện nhận con thừa tự, nàng ấy liền đóng cửa không ra ngoài suốt mấy ngày liền, lại ép Hầu gia và phu nhân đi bàn chuyện hôn sự. Phu nhân đến chùa xem bói một quẻ, nói duyên phận của nàng ấy không nằm trong hai năm này, nhưng tiểu thư không tin. Nàng ấy quá nóng vội, cứ như trong nhà này không còn chỗ dung thân cho nàng ấy nữa, nàng ấy phải đi cầu một sự che chở khác vậy. Khi ấy phu nhân rất đau lòng, đó chính là tiểu thư được bà đặt trên đầu quả tim mà thương yêu...”
Khương Ly khó hiểu: “Nàng ấy là con gái duy nhất trong Hầu phủ, sao lại phải tìm nơi nương nhờ khác?”
Tử Vân thở dài: “Nô tỳ cũng không hiểu điểm ấy. Hầu gia và phu nhân yêu chiều nàng ấy hết mực, khi ấy đã nói qua vài năm nữa rồi tính chuyện nhận con thừa tự, nhưng dù như vậy, tiểu thư vẫn quyết tâm bàn chuyện hôn sự.”
“Lúc còn nhỏ, tiểu thư không rời phu nhân nửa bước. Đến năm 6 - 7 tuổi bắt đầu vỡ lòng đọc sách, nàng ấy dần dần có chủ kiến hơn. Sau này tuy việc gì cũng xuất chúng, nhưng lại rèn ra một tính tình tự chủ, xa cách lạnh nhạt. Càng lớn tuổi, nàng ấy càng không còn thân mật với phu nhân và Hầu gia như thuở nhỏ nữa. Phu nhân thỉnh thoảng cũng cảm thán rằng tiểu thư đọc sách quá nhiều, học thành tính tình tự lập, hiếu thắng như nam nhi...”
Khương Ly vừa đi vừa hỏi: “Hầu gia cũng hoàn toàn chiều theo ý nàng ấy sao?”
Tử Vân gật đầu: “Năm xưa phu nhân sinh tiểu thư rất khó khăn, gọi tới bốn năm thầy thuốc và bà đỡ, giằng co suốt một ngày một đêm mới sinh được nàng ấy, nhưng từ đó bà ấy để lại di chứng, mất khả năng sinh nở. Khi ấy phu nhân còn không có sữa, trước sau tìm năm, sáu nhũ mẫu chăm sóc tiểu thư. May mà Ngô ma ma có đủ sữa, lúc này mới nuôi sống được tiểu thư. Nhưng tiểu thư vẫn yếu ớt, trước nửa tuổi thuốc thang không dứt. Để cứu mạng tiểu thư, phu nhân dẫn theo một đám người đến ở am Thanh Vân ngoài thành, ngày ngày ăn chay niệm Phật, đợi tiểu thư bình an tròn 1 tuổi mới trở về. Đứa con được nuôi lớn trong muôn vàn gian khó như vậy, Hầu gia sao nỡ không thuận theo tiểu thư?”
Khương Ly khẽ nói: “Được cưng chiều như thế mà Mạnh Tương không bị nuôi thành tính kiêu căng ngang ngược, cũng thật hiếm có.”
Tử Vân thở dài cảm thán: “Đúng vậy, nhắc đến chuyện này, Hầu gia và phu nhân cũng từng thấy an ủi. Nhưng phúc họa luôn song hành, giờ đây phu nhân luôn cảm thấy là vì bà ấy không nghe lời sư phụ trong chùa, vội vàng bàn chuyện hôn sự nên mới khiến tiểu thư gặp kiếp nạn.”
Khương Ly nói: “Mạnh Tương bị người ta hãm hại, mọi lỗi lầm đều nằm ở hung thủ đứng sau màn.”
Trong lúc nói chuyện, hai người đã trở lại tiền viện. Không biết Tiết Kỳ và Mạnh Tắc đã nói đến chuyện gì, Mạnh Tắc thở dài nói: “Là phủ chúng ta không có phúc phận ấy. Tâm ý của Quý phi nương nương và Thái tử Điện hạ, chúng ta sẽ không quên.”
Thấy Khương Ly trở về, Mạnh Tắc không nói tiếp nữa. Tiết Kỳ hỏi: “Đã thắp hương xong rồi chứ?”
Khương Ly đáp phải, lại nói: “Con cũng đã đến thỉnh an bá mẫu. Bá mẫu đau buồn đến cùng cực, vẫn nên bảo trọng thân thể mới phải.”
Mạnh Tắc bất lực: “Bây giờ nói gì bà ấy cũng không nghe, chỉ mong bọn hạ nhân chăm sóc cẩn thận.”
Trời lúc này đã tối, Tiết Kỳ nghe vậy cũng không định ở lại lâu: “Mạnh huynh ở lại bầu bạn với đệ muội nhiều hơn đi, chúng ta xin cáo từ trước. Mấy ngày này nếu có việc gì giúp được, Mạnh huynh cứ mở lời.”
Mạnh Tắc cảm ơn, đích thân tiễn hai cha con ra xe rồi mới quay vào.
Trên xe ngựa, Tiết Kỳ nhìn Khương Ly hỏi: “Ta nghe nói đêm đó, người nhà họ Đoàn và nhà họ Ninh cũng có mặt?”
Khương Ly đáp phải, Tiết Kỳ lại hỏi: “Mạnh Tương và hai người nhà họ Đoàn kia không có quan hệ gì chứ?”
Khương Ly đảo mắt một cái: “Chuyện đó con không rõ.”
Nàng vừa trở về Trường An chưa đầy một tháng, làm sao biết được giữa những công tử, tiểu thư này có khúc mắc gì? Nhưng ý trong lời Tiết Kỳ lại giống như hy vọng cái chết của Mạnh Tương có liên quan đến mấy người kia. Nhà họ Đoàn thuộc một mạch với Túc Vương, vốn bất hòa với phe Thái tử. Còn nhà họ Ninh thì vì duyên cớ của Ninh Dao, nếu nhà họ Ninh dính vào án mạng, chẳng phải sẽ giải được mối họa trong lòng Tiết Lan Thời hay sao?
Khương Ly nghĩ thông suốt, ý lạnh trong lòng càng thêm dày đặc. Sau khi Mạnh Tương chết, chỉ có phụ mẫu nàng ấy đau đớn như không muốn sống. Còn những kẻ đứng trên cao lạnh mắt đứng nhìn, e rằng đều mang tâm tư đứng bên kia bờ xem lửa cháy, ngồi chờ thu lợi. Mạnh Tương còn như vậy, huống chi là Hoàng thái tôn năm đó?
Về đến Doanh Nguyệt Lâu, Khương Ly lại nghĩ đến Tần Đồ Nam đã gặp ban ngày, lòng càng bất an. Sau một hồi do dự, nàng vẫn viết một phong thư, đưa cho Hoài Tịch: “Chờ một chút nữa hãy đi, đích thân mang đến ngõ Phù Dung.”
Hoài Tịch gật đầu nhận lệnh. Đợi Khương Ly thay y phục và nghỉ ngơi, đèn đuốc trong Doanh Nguyệt Lâu cũng dần tắt. Một bóng đen lặng lẽ lướt ra từ cửa sổ phía đông bắc, vượt qua đình đài hoa viên không một tiếng động, sau đó tung người nhảy ra khỏi tường Tiết phủ.
***
Sáng hôm sau, trời u ám, mây dày như chì, rét lạnh lặng lẽ bao trùm, như đang ấp ủ thêm một trận gió tuyết nữa.
Khương Ly dùng xong bữa sáng, đang cầm sách y học đọc thì Cát Tường hối hả bước vào: “Đại tiểu thư, Đại tiểu thư phủ Thọ An Bá và Đại tiểu thư phủ Binh bộ Thị lang tới thăm!”
Khương Ly có phần ngạc nhiên vui mừng: “Mau mời vào —”
Phó Vân Từ và Ngu Tử Đồng cùng nhau đi tới. Vào cửa, hai người cởi áo choàng xuống, rồi quan sát tòa lầu thêu của nàng. Ngu Tử Đồng nói: “Trên đường tới đây còn thấy nơi này hơi hẻo lánh, không ngờ cảnh trí gần bên lại đẹp như vậy.”
Phó Vân Từ liếc nàng ấy một cái: “Không tính là hẻo lánh đâu, chắc chắn nơi này rất hợp với tính cách của A Linh.”
Khương Ly vừa rót trà vừa mỉm cười: “Ta ở bên ngoài 17 năm, nay tuy trở về danh chính ngôn thuận, nhưng dẫu sao cũng không thân thiết bằng người luôn ở nhà. Nơi này đúng là hẻo lánh thật, nhưng ta lại thích.”
Nàng đưa trà nóng tới: “Sao hai người lại đến cùng vậy?”
Ngu Tử Đồng thở dài: “Không vì chuyện đêm đó thì vì gì nữa? Hai ngày nay ta theo dõi động tĩnh của Đại lý tự, nhưng hình như vẫn chưa tra ra gì. Sáng nay ta đến tìm A Từ, nàng ấy cũng biết chuyện. Hai chúng ta bàn nhau một chút, rồi đến tìm cô. Nghe nói dạo này cô đang chữa bệnh cho Bùi lão phu nhân, Bùi Hạc Thần có nhắc gì đến vụ án không?”
Khương Ly đành nói: “Cũng có nhắc qua vài câu, nhưng vẫn chưa có ai đáng nghi.”
Phó Vân Từ lại hỏi: “Nghe nói Thục Dư cũng bị thương? Còn nói hung thủ định ra tay với nàng ấy nữa?”
Trong lòng Khương Ly dao động: “Sao, cô biết lí do ư?”
Phó Vân Từ cầm chén trà đáp: “Hơn một năm nay nàng ấy gặp mấy chuyện ngoài ý muốn, chúng ta đều từng nghe nói. Ta và nàng ấy tuy không tính là bạn thân, nhưng hai nhà có chút qua lại, tất nhiên cũng từng để tâm. Mấy lần ngoài ý muốn của nàng ấy thật sự cổ quái, chỉ nghe thôi đã khiến người ta kinh hồn bạt vía. Hơn nữa cuối tháng 9 năm ngoái, con mèo của nàng ấy còn chết...”
Khương Ly hơi kinh ngạc: “Chuyện đó mà cô cũng biết à?”
Ngu Tử Đồng cũng hiếu kỳ nhìn Phó Vân Từ. Năm ngoái, nhà nàng ấy vẫn chưa trở lại Trường An, nên những rối ren ấy nàng ấy cũng giống Khương Ly, hoàn toàn không hay biết.
Phó Vân Từ kể: “Ta nhớ là khoảng ngày 27 hay 28 tháng 9 năm ngoái. Hôm đó lão phu nhân nhà họ tổ chức mừng thọ. Vì là đại thọ tròn tuổi, nên tổ chức rất lớn, phủ chúng ta cũng nhận được thiệp mời. Ta cùng phụ thân, mẫu thân và A Hành đều đến. Ban ngày nghe hí rất náo nhiệt, đám tiểu bối chúng ta còn ở lại lâu hơn một chút. Đến lúc tan tiệc buổi tối, thị nữ của nàng ấy bỗng đến nói con mèo của nàng ấy không ổn rồi.”
“Con mèo tên là Tuyết Nô, là một con mèo toàn thân trắng muốt cực kỳ xinh đẹp. Ban ngày chúng ta còn trêu nó, chỉ trong vỏn vẹn nửa ngày đã xảy ra chuyện. Khi ấy ta về muộn, nghe nói chuyện này mới đi cùng nàng ấy đến xem. Lúc đến nơi, con mèo nằm co thành một cục dưới đất, thở ra nhiều mà hít vào ít, khóe miệng còn có chút vết máu. Tiểu đồng đi mời đại phu còn chưa kịp mời người về, con mèo đã tắt thở.”
Ngu Tử Đồng căng thẳng nói: “Là trúng độc sao?”
Phó Vân Từ lắc đầu: “Chuyện này ta không chắc. Dấu máu không nhiều, lúc đó con mèo nằm nghiêng trên đất, cuộn lại thành một cục, hơi thở yếu ớt, mũi tái nhợt, phần lưng và bụng cứ phập phồng lên xuống, không nhìn ra được lí do khiến nó nôn ra máu.”
Lúc này Khương Ly nói: “Nghe cô miêu tả, có vẻ là nội tạng có vấn đề nên mới dẫn đến xuất huyết. Có ai đánh mèo không?”
Phó Vân Từ đáp: “Khi đó phát hiện ra con mèo ở thủy các ngoài viện của Thục Dư. Ban ngày nơi đó là chỗ chúng ta tụ tập trò chuyện, ban đêm thì không ai lui tới, cũng chẳng ai thấy con mèo bị đánh. Khi đó Thục Dư đã cho người điều tra nhưng không tìm ra chất độc. Nàng ấy rất đau lòng, ta đã ở lại an ủi nàng ấy nửa canh giờ rồi mới về phủ.”
Trong lòng Khương Ly dâng lên một cảm giác kỳ lạ: “Chắc cô cũng biết chuyện của Nhạc Doanh Thu con gái Nhạc đại nhân, Lang trung Độ chi ti Hộ bộ đúng không? Nàng ấy là bạn tốt của Thục Dư, sau khi bị hại năm ngoái, Thục Dư đã chịu cú sốc rất lớn. Sau đó lại đến cái chết của Tuyết Nô khiến nàng ấy đau đớn đến không thiết sống. Nếu cô không nhắc, ta cũng không biết là con mèo ấy vậy mà lại chết trong tiệc thọ.”
Phó Vân Từ vội nói: “Biết chứ, chúng ta cũng quen Nhạc cô nương. Hầy… đúng là một cô gái đáng thương. Đúng thế, thời gian đó Thục Dư thường xuyên sinh bệnh, sau này càng lấy cớ bệnh. Sau đó lại xảy ra ngoài ý muốn, lúc thì cháy, lúc thì rơi xuống nước. Đổi lại là bất cứ ai, cũng phải bệnh nặng một trận, không dám ra khỏi cửa.”
Ngu Tử Đồng còn âu sầu nói: “Bây giờ nghĩ lại, những chuyện ngoài ý muốn ấy nói không chừng không phải ngoài ý muốn.”
Khương Ly lại hỏi tiếp: “Còn Mạnh Tương thì sao? Cô có biết rõ về nàng ấy không?”
Ngu Tử Đồng ở Trường An chưa lâu, nhưng Phó Vân Từ thì chưa từng rời thành, các tiểu thư quý tộc đều quen biết nhau, tất nhiên nàng ấy cũng biết Mạnh Tương.
Nhưng Phó Vân Từ nói: “Ta không qua lại nhiều với nàng ấy, ấn tượng duy nhất là nàng ấy không chịu được hoa cúc. Không nhớ rõ là năm nào, trong một lần đi chơi mùa thu, đang thưởng hoa thì nàng ấy vừa nói cổ họng khó chịu vừa hắt hơi liên tục, chẳng bao lâu trên người còn nổi mẩn đỏ, nặng đến mức ngất xỉu. Sau đó nàng nói là bệnh cũ, hễ thấy hoa cúc là phải tránh xa ba trượng, hoặc phải bịt kín miệng mũi mới ổn. Hôm đó dù nàng ấy đã cẩn thận hết sức, vậy mà vẫn trúng độc…”
Khương Ly nghe mà sinh nghi, Ngu Tử Đồng cũng kinh ngạc: “Nàng ấy không chịu được mùi hoa cúc ư? Vậy hôm ở phủ Công chúa, lúc cắm hoa cùng nàng ấy vẫn chọn hoa cúc mà, nhưng đúng là chẳng bao lâu sau đã ho thật.”
Phó Vân Từ ngạc nhiên: “Tự mình chọn hoa cúc sao? Nàng ấy không sợ trúng độc à?”
Khương Ly cũng hỏi: “Là nàng ấy tự chọn thật sao?”
Ngu Tử Đồng cố nhớ lại: “Hình như là nàng ấy tự chọn thật. Ta còn nghe Sở Lam nhắc nàng ấy một câu gì đó, nhưng nàng ấy lại nói mình không sợ. Chẳng lẽ nàng ấy tưởng mình đã khỏi bệnh rồi?”
Phó Vân Từ “ồ” một tiếng: “Có lẽ là vậy.”
Hai người đang nói thì cùng nhìn về phía Khương Ly vẫn im lặng nãy giờ. Chỉ thấy nàng cau mày, rõ ràng cảm thấy có gì đó không ổn. Lúc này Khương Ly cất lời: “Trúng độc hoa cúc, đó là một dạng bệnh mề đay. Có người không chạm được vào hoa, có người không ăn được một loại thức ăn nào đó, một khi chạm vào hoặc ăn vào nhất định sẽ phát mề đay. Nếu chỉ là thỉnh thoảng phát tác thì còn có thể chữa, nếu từ nhỏ đã nổi mẩn như vậy thì cực kỳ khó trị tận gốc.”
Ngu Tử Đồng đảo mắt, nói: “Vậy thì lạ thật. Chỉ có thể giải thích rằng hoa hôm đó được Khánh Dương Công chúa mang đến, nàng ấy không tiện làm mất hứng thú của Công chúa.”
Nói như vậy thì còn có lý. Nhưng Khương Ly nghĩ đến việc Mạnh Tương thường xuyên lui tới phủ Khánh Dương Công chúa, lại cảm thấy nàng ấy không cần phải cẩn thận quá mức như thế.
Khương Ly nghĩ mãi không thông, Phó Vân Từ và Ngu Tử Đồng đến để hỏi tiến triển vụ án, khiến nàng càng như rơi vào mây mù. Ba người lại trò chuyện thêm một lúc, Khương Ly giữ hai người ở lại dùng bữa trưa. Sau bữa trưa, nàng tiễn họ lên xe ngựa quay về, còn bản thân thì dẫn Hoài Tịch tới phủ Nghi Dương Công chúa.
Trên xe ngựa, Khương Ly trầm ngâm nói: “Mạnh Tương là người bị hại, nhưng không biết vì sao ta lại thấy nghi vấn quanh nàng ấy càng lúc càng nhiều. Nhất là năm ngoái, thời điểm nàng ấy vội vàng bàn chuyện hôn sự quá nhạy cảm, bằng hữu thân thiết vừa mới bị hại trong tháng trước, sang tháng sau nàng ấy đã sốt sắng đính ước, chuyện này bình thường sao…”
Hoài Tịch lắc đầu: “Nô tì thấy, Quách cô nương bị dọa sợ đến vậy, đồng thời quan tâm hung thủ khi nào sa lưới mới là bình thường.”
Khương Ly lẩm bẩm: “Nếu chỉ là nghe tin mất thì thôi cũng được, nhưng nàng ấy còn tận mắt chứng kiến Nhạc Doanh Thu chết, hơn nữa dịp Tết còn đến thăm Nhạc phu nhân để hỏi về trâm cài, vậy mà trong phủ mình lại tỏ ra như chẳng có gì. Nếu là ta, nhìn thấy trâm của bạn bè thân thiết lưu lạc bên ngoài, thì sẽ thấy tiếc mà mua về, hoặc ít ra cũng nên thấy sợ mới đúng.”
Khương Ly thở dài, thấy phủ Nghi Dương Công chúa đã gần, bèn ngừng câu chuyện. Đợi xe dừng lại, chủ tớ hai người lần lượt bước vào phủ, dưới sự dẫn đường của nội thị đi về phía viện của Thôi Cẩn. Vừa đi đến cửa viện, họ thấy Bùi Yến đứng ở đó, đang nói gì đó với quản sự phủ Công chúa.
Khương Ly hành lễ: “Bùi Thiếu khanh —”
Bùi Yến khoát tay, chờ quản sự lui xuống, hắn mới bước tới nói: “Sau khi khám bệnh cho Huyện chúa xong, mời cô nương theo ta đến nhà họ Nhạc một chuyến.”
Trong lòng Khương Ly dao động: “Tra ra được gì rồi sao?”
Bùi Yến đưa mắt nhìn quanh một lượt, trầm giọng nói: “Tra được hai điểm đáng ngờ. Sau khi vụ án xảy ra năm ngoái, Mạnh Tương quả thật từng nhiều lần nhờ người dò hỏi tiến triển vụ án của Nhạc Doanh Thu, nhưng sau khi dò hỏi, nàng ấy không nói cho Nhạc phu nhân biết. Đặc biệt là mấy điểm đáng ngờ trên người Tào Hữu Khánh, hiện giờ e rằng Nhạc phu nhân vẫn chưa biết toàn bộ. Ngoài ra, khi chúng ta điều tra các khoản qua lại dưới danh nghĩa Mạnh Tương, phát hiện nàng ấy đã gửi một khoản bạc 5000 lượng ở tiền trang Vĩnh Phúc Nam Thành. Nhưng chuyện này cha mẹ nàng ấy đều không biết, ngay cả thị nữ thân tín của nàng ấy cũng hoàn toàn không hay biết.”
Khương Ly vô cùng kinh ngạc: “5000 lượng bạc?”



